BÒN BON công dụng

May 4, 2010  
Thư mục 4.Sức Khỏe - Làm Đẹp

Tổ chức Tea Break , Tiệc trà

Một truyền thuyết tôn giáo tại Philippines kể rằng:
“Quả lanzones (tên gọi của Bòn bon Tại Phi) trước đây rất chua, không ăn được và còn có chất độc, nhưng một ngày kia có một bà mẹ rất xinh đẹp bồng con đi ngang một vùng chỉ có cây này, bà không tìm được gì khác để ăn nên đành hái một quả và đưa cho con.. và ngay sau đó, lạ thay quả trở thành có vị ngon ngọt như ngày nay..và Bà mẹ này chính là Thánh Nữ Đồng Trinh Mary.. nhưng vì Bà chưa chuyển biến quả hoàn toàn.. nên vẫn còn một số lanzones.. chưa được ngọt..’
Bòn bon có nguồn gốc tại vùng Tây Mã lai, được trồng khá phổ biến trên khắp bán đảo Mã. Cây cũng được trồng rất nhiều tại đảo Luzon (Philippines) nơi đây quả rất được ưa chuộng và cây được trồng để bao phủ các vùng đồi trọc. Cây cũng gặp tại Thái Lan và Nam Việt Nam (từ Quảng Nam xuống đến Đồng bằng sông Cửu long, Bòn bon Lái thiêu được xem là loại ngon nhất). Ngoài ra, tại Ấn độ cây rất phổ biến trong vùng Nilgiris và tại những vùng ẩm ướt phía Nam Ấn: nơi đây quả được bán tại khắp các chợ.. Bòn bon được đưa vào Hawaii khoảng năm 1930 và được trồng tại những vùng có cao độ tương đối thấp.
null

Bòn bon ít được biết đến tại vùng nhiệt đới Mỹ châu ngoại trừ tại Surinam (tại đây chỉ có một số ít cây được trồng để khai thác thương mãi). Năm 1926, hạt giống bòn bon được gửi từ Java (Indonesia) sang Trung tâm Cây giống thực nghiệm ở Tela, Honduras: cây phát triển tốt..nhưng không cho..quả! Trái lại tại các đảo khác như Trinidad, Puerto Rico, cây lại cho quả khá tốt.
Tại vùng phía Nam Florida, tuy các điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng không thích hợp lắm, nhưng nhà trồng cây chuyên môn William Whitman đã tìm cách trồng được 2 cây bòn bon tại một khu vực có đất pha trộn đặc biệt, cả 2 cây đều cho quả khá nhiềụ Khí lạnh của mùa Đông làm cây rụng hết lá và gốc bị tróc vỏ nhưng cây vẫn hồi phục lại được. Các cây mẫu khác cũng sống được tại vùng xa nhất về phía Nam Keys..
Tên khoa học và các tên khác:
Lansium domesticum thuộc họ Thực vật Meliaceae
Tên Anh-Mỹ : Lansat; Pháp : Doukou, Lansiam; Đức : Duku; Tây ban Nha : Lanza; Philippines : Lansones; Thái Lan : longkong, lansa; Indonesia : duku, kokosan
Đặc tính thực vật:
Cây thuộc loại thân mộc, mọc thẳng đứng, cao 15-20 m. Cây phát triển chậm, mất đến 15 năm mới trưởng thành. Vỏ thân màu nâu đỏ hay vàng-nâu. Lá kép hình lông chim, lẻ , dài 22.5 đến 50 cm: có từ 5-7 lá chét thuôn, cứng, không lông dài 8-13 cm, rộng 7-12 cm. Phiến lá có 12-14 cặp gân phu. Cuống lá phụ dài đến 1cm. Hoa màu trắng hay vàng nhạt, mọc thành chùy ở ngọn nhánh. Hoa lưởng phái : đực và cái riêng biệt. Hoa nhỏ, có 5 lá đàị Quả gần như tròn, tụ thành chùm từ 2 đến 30 quả, vò vàng nhạt hay hơi trắng hồng, mịn như nhung có chứa một chất nhựa-mủ, Quả thường có 5 múi, có vách ngăn mỏng. Múi chứa nhiều nước có mùi thơm. Vị ngọt và hơi chua Quả có hạt trong, dính với thịt; hạt có áo mỏng. Hạt màu xanh lục dài 2-2.5 cm, rộng 1.25-2 cm có vị rất đắng (đôi khi nếu hạt dính chắc vào phần thịt trong múi của quả, có thể làm cho nước lây vị đắng).
Bòn bon tại Mã Lai thường cho mỗi năm hai mùa quả: Tháng 6-7 và Tháng 12-1, đôi khi kéo đến tháng 2. Tại Ấn độ, quẳ chín trong các tháng từ tháng 4 đến tháng 9.. Tại Việt Nam, cây cho quả trong các tháng 6-8.
Tại Philippines, mỗi cây có thể cho đến 1000 quả/ năm.
Về phương diện thực vật, cây Bòn bon được chia thành 2 nhóm khác biệt:
Lansium domesticum var. pubescens: tiêu biểu cho loài cây hoang, cây có dạng mỏng manh hơn, mọc thoáng, các nhánh nhỏ có lông. Quả gần như tròn, vỏ dày chứa nhiều nhựa.
Lansium domesticum var. domesticum, còn gọi là duku, doekoe hay dookoo. Cây mạnh hơn, lá bao phủ thân, lá có gân nổi rất rõ. Quả hình thuôn, da mỏng màu nâu nhạt, không nhựa hay rất ít nhựa.

Vài chủng nổi tiếng:
Conception: Chủng cho quả ngọt, trồng tại Philippines
Uttaradit: Chủng phổ biến tại Thái Lan.
Paete: Chủng chính tại Philippines
Thành phần dinh dưỡng:
100 gram phần ăn được chứa :
- Chất đạm 0.8 g
- Chất Carbohydrates 9.5 g
Chất sơ 2.3 g
- Calcium 20 mg
- Phosphorus 30 mg
- Carotene (Vit A) 13 IU
- Thiamine 0.089 mg
- Riboflavine 0.124 mg
- Ascorbic acid 1 mg
Về phương diện thực phẩm, quả bòn bon sau khi lột vỏ có thể ăn sống như một trái cây giải khát (bỏ hột). Với những chủng, vỏ chứ nhiều nhựa có thể nhúng quả vào nước sôi trước khi lột vỏ.
Quả tươi có thể giữ khoảng 4 ngày ở nhiệt độ bình thường, nhưng nếu giữ trong tủ lạnh ở 52-55 độ F (12-13 độ C), có thể tồn trữ đến 2 tuần. Vị ngọt gia tăng vì lượng đường trong quả được chuyển đến mức cao nhất trong vòng 7 ngày, rồi giảm xuống.
Quả sau khi lột vỏ, bỏ hạt có thể đóng hộp, ngâm trong nước đường.
Thành phần hóa học:
Ngoài thành phần dinh dưỡng trên của quả, các bộ phận các của cây còn chứa một số hoạt chất :
Hạt: chứa các triterpinoids và các tetranortriterpenoids: domesti culide A-E; một hợp chất loại alkaloid, và 2 hoạt chất đắng; nhựa tan trong alcohol (1%)
Vỏ quả: Vỏ tươi chứa tinh dầu dễ bay hơi (0.2%) màu vàng nhạt, một chất nhựa màu nâu, tannin và một số acid hữu cơ. Vỏ khô co thể trích ra một chất nhựa dẻo (oleoresin) gồm 0.17 % tinh dầu và 22% nhựạ Trong vỏ quả cũng có các triterpen loại onoceranoid
Công dụng sinh học của Bòn bon:
Bòn bon và một số cây khác trong gia đình thực vật Meliaceae như Vong nem (Azadirachta indica), Cedar (Cedrela odorata) đã được trong dược học dân gian tại nhiều nơi (Indonesia, Philippines..) để làm thuốc trị sốt rét.
Nghiên cứu tại ĐH Ottawa (Canada) ghi nhận các triterpinoids loại lansiolides ly trích từ vỏ thân cây bòn bon có hoạt tính trong các thử nghiệm sinh học (in vitro) chống lại ký sinh trùng gây sốt rét Plasmodium falciparum và trên chuột bị gây nhiễm P. berghei (Current Topics in Medicinal Chemistry Số 3-2003).
Nghiên cứu tại ĐH Walailak, Thasala (Thái Lan) ghi nhận các terpenoids ly trích từ hạt bòn bon có hoạt tính diệt được Plasmodium falciparum ở nồng độ IC50 = 2.4-9.7 microg/ml (Phytochemistry Số 67-2006).
Nghiên cứu tại ĐH Malaysia , Sarawak (Mã lai) ghi nhận : Nước chiết từ vỏ quả và lá Bòn bon có tác dụng làm giảm hạ số lượng P. falciparum thuộc các chủng đã kháng chloroquine (T9) và chưa kháng chloroquine (3D7). Dịch chiết từ vỏ quả gây trở ngại, làm ngưng chu kỳ phát triển của ký sinh trùng. (Journal of Ethnopharma cology Số 85-2003).
Nghiên cứu tại ĐH Philippines, Manila ghi nhận dịch chiết từ lá bòn bon có tác dụng diệt được ấu trùng (lăng quăng) của các loài muỗi Aedes aegypti (tác nhân chuyển bệnh Sốt xuất huyết) và Culex quin quefasciatus. Hoạt tính diệt lăng quăng này xẩy ra trong vòng 48 giờ sau khi thêm dịch chiết vào môi trường thử nghiệm ở các nồng độ 100g % đến 1,565g % (SouthEast Asian Journal of Tropical Medici ne and Public Health Số 25-1994)

Vài phương thức sử dụng khác:
Vỏ : Tại Java (Indonesia), vỏ quả được phơi khô, và đốt : khói có mùi thơm dùng đuổi muỗi và làm nhang xông tại các phòng người bê.nh.
Gỗ : Gỗ thân màu nâu nhạt, độ cứng trung bình, có hạt mịn, dai khá bền. Tại Java được dùng làm cột nhà, thuyền bè, cán dụng cụ và cán đồ nhà bếp. Nhựa than lấy được bằng chưng cất, dùng để nhuộm răng.
Thuốc dân tộc: Hạt, phơi khô, được tán thành bột dùng trị nóng sốt và sán lải (Indonesia). Vỏ thân dùng trị vết cắn của bọ cạp (Malaisia). Nước sắc từ vỏ thân và lá dùng trị tiêu chảy và sốt rét. Nước nấu từ lá dùng làm thuốc nhỏ, trị sưng mắt.
Thổ dân tại Indonesia, Philippines dùng vỏ quả và vỏ cây để chế tạo một loại thuốc độc tẩm vào mũi tên. Trong vỏ quả và vỏ cây có một lượng nhỏ lansium acid một độc chất khi chích vào ếch, gây tim ngưng đập.
Tài liệu sử dụng:
Fruits : A Connoisseur’s Guide ( Alan Davidson)
Fruits of Warm Climates (Julia Morton)
Từ Điển Cây Thuốc Việt Nam (Võ văn Chi)

Dược sĩ Trần Việt Hưng

Nguồn Y Dược Ngày Nay


buffet ngot tea break

trai cay dia tia trai cay gio trai cay

Comments

Viết ý kiến của bạn...